Thành công của khách hàng

Là thành công chúng tôi

Tiếng Việt English

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN

Sở hữu chế độ toàn dân hay chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phần nào xuất phát từ yếu tố lịch sử. Chế định này đã được quy định và biết đến từ lâu trong Hiến pháp và các văn bản luật nhưng bản chất của chế độ sở hữu này như thế nào và quyền sở hữu đối với đất đai của mỗi người dân thật sự nằm ở đâu thì vẫn còn là những quy định mở.

1. Chế độ sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được chính thức xác lập kể từ ngày 18/12/1980, ngày Hiến pháp năm 1980 được ban hành. Tại Điều 19 Hiến pháp năm 1980 ghi nhận: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân”. Sau đó chế độ này tiếp tục được tái khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và hiện tại là Hiến pháp năm 2013 (Điều 53). 

Theo Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Và tại Luật Đất Đai năm 2013 cũng khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” (Điều 4). Như vậy, pháp luật xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là “đại diện chủ sở hữu”. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận “quyền sử dụng đất”. Người dân là “người sử dụng đất”, có “quyền sử dụng đất” và được chuyển quyền này, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.

Thực tế, chủ sở hữu “toàn dân” thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua 3 kênh chủ yếu sau: (i) thực hiện các quyền trực tiếp về đất đai thông qua việc Nhà nước phải xin ý kiến của nhân dân về các chính sách lớn (ở các cộng đồng dân cư phải xin ý kiến nhân dân về quy hoạch sử dụng đất, giá cả, đền bù…); (ii) thực hiện các quyền gián tiếp về đất đai thông qua Nhà nước (các cấp) là đại diện chủ sở hữu; và (iii) việc các chủ thể sử dụng đất được chế định rõ các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và phải thực hiện đúng vì lợi ích của mình và lợi ích chung của cộng đồng, xã hội và quốc gia.

  1. Vai trò của Nhà nước

Theo phân tích ở trên, Nhà nước với tư cách là “đại diện chủ sở hữu” sẽ thống nhất quản lý. Song song với đó, Nhà nước vẫn là một cơ quan nhà nước nên có tư cách của một “chủ thể quản lý nhà nước” về đất đai. Đồng thời, ở chủ thể này vẫn có quyền của một “người sử dụng đất”. Như vậy, Nhà nước đang cho mình 3 quyền: quyền của đại diện chủ sở hữu, quyền quản lý nhà nước về đất đai, và quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc đồng thời thực hiện cả 3 vai trò, chức năng, nhiệm vụ này mà không có cơ chế phân định, kiểm soát hiệu quả sẽ dẫn đến việc tình trạng lạm quyền, không minh bạch, không bình đẳng trong việc thực hiện các quy định về đất đai. 

Các quyền này được quy định tại Luật Đất đai năm 2013. Trong đó, quyền của một đại diện chủ sở hữu và quyền quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 13 và Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

Điều 13. Quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai

1. Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất.

2. Quyết định mục đích sử dụng đất.

3. Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất.

4. Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất.

5. Quyết định giá đất.

6. Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

7. Quyết định chính sách tài chính về đất đai.

8. Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”.

Điều 22. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.

2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.

3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.

4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

8. Thống kê, kiểm kê đất đai.

9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.

11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.

14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.

15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai”.

 

 

LIÊN HỆ LUẬT KHANG TRÍ:

Với đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý tận tâm, chuyên nghiệp, hệ thống tổng đài của chúng tôi luôn phục vụ 24/24h nhằm mang đến cho khách hàng sự hỗ trợ nhanh nhất và hiệu quả nhất.

Hotline: 0983 198 382

Email:

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và thực hiện các dịch vụ pháp lý nhanh chóng, uy tín và hiệu quả.

Luật Khang Trí – Giải pháp của thành công !