.jpg)
-
Về căn cứ pháp lý.
Thủ tục tố tụng dân sự do Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 điều chỉnh, còn thủ tục tố tụng hành chính do Luật tố tụng hành chính điều chỉnh.
-
Về thời hạn xem xét đơn kiện của thẩm phán.
Trong TTHC là 03 ngày làm việc (Điều 121 Luật TTHC 2015). Trong TTDS là 05 ngày làm việc (Điều 191 Bộ luật TTDS 2015).
-
Các trường hợp trả lại đơn kiện.
Trong TTDS có quy định việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện rút lại đơn khởi kiện (Điều 192 BLTTDS) nhưng trong TTHC không quy định trường hợp này (Điều 123 Luật TTHC) mà quy định Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu khi ra Quyết định đình chỉ vụ án (Khoản 2, Điều 143 Luật TTHC).
-
Về khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn kiện.
Thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện và thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị (quyết định GQKN,KN) về việc trả lại đơn khởi kiện trong TTHC là 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận được quyết định GQKN,KN về việc trả lại đơn khởi kiện. (Điều 124 Luật TTHC). Trong TTHC chỉ có 2 cấp GQKN,KN. Quyết định GQKN,KN của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng. (Điều 124 Luật TTHC).
Còn đối với thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện và thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định GQKN,KN về việc trả lại đơn khởi kiện trong TTDS là 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận được quyết định GQKN,KN về việc trả lại đơn khởi kiện. (Điều 194 BLTTDS). Trong TTDS việc GQKN,KN được thực hiện theo 3 cấp. Quyết định GQKN,KN của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp chỉ là quyết định có hiệu lực thi hành, đương sự hoặc Viện kiểm sát vẫn có quyền khiếu nại, kiến nghị đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Quyết định GQKN,KN của Chánh án Tòa án Tòa án nhân dân cấp cao mới là quyết định cuối cùng. (Điều 194 BLTTDS)
-
Đương sự là cơ quan, tổ chức.
Đối với quy định tại Khoản 11, Điều 3 và Khoản 3, Điều 60 Luật TTHC 2015 thì các cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân sẽ không được tham gia tố tụng với tư cách là đương sự trong TTHC
Tuy nhiên với quy định tại Khoản 5, Điều 74 Bộ luật TTDS 2015 thì các cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn có thể là đương sự trong TTDS: “Trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu không cử được người đại diện hoặc tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì các cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng”.
-
Người đại điện của đương sự trong tố tụng.
Trong TTHC, cán bộ, công chức trong các cơ quan Thanh tra, Thi hành án, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật (Điều 60).
Trong TTDS, cán bộ, công chức trong các cơ quan Thanh tra, Thi hành án vẫn được làm người đại diện. Riêng sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an có được làm người đại diện trong TTDS hay không thì vẫn còn những quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng theo quy định tại Khoản 3 Điều 87 Bộ luật TTDS 2015 thì: “Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong TTDS, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật” nên sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong TTDS.
- Quan điểm thứ hai thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức thì sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân không phải là công chức. Do đó, sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân được làm người đại diện trong TTDS.
-
Ủy quyền lại cho bên thứ 3.
Trong TTHC, đại điện được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ 3 (Khoản 5 Điều 60). Trong TTDS, tuy không có quy định việc ủy quyền cho người thứ 3, riêng đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng (Điều 85 BLTTDS)
-
Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong TTHC người yêu cầu áp dụng biện pháp khản cấp tạm thời không phải thực hiện biện pháp bảo đảm (Điều 66 Luật TTHC). Trong TTDS, đối với một số yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm (Điều 136 BLTTDS)
-
Về thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và nộp biên lai thu tiền cho Tòa án
Trong TTHC: 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí (Điều 125 Luật TTHC)
Trong TTDS: 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về nộp tiền tạm ứng án phí. (Điều 195 BLTTDS)
-
Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát
Trong TTHC đại diện Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm (Điều 25 Luật TTHC). Trong TTDS đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm trong một số trường hợp mà pháp luật có quy định (Điều 21 BLTTDS).
Trên đây là những phân tích để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn về thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục tố tụng hành chính. Qua đó, cần sự nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục TTHC và thủ tục TTDS cho phù hợp để tránh sự nhầm lẫn trong quá trình kiểm sát giải quyết các loại án.
LIÊN HỆ LUẬT KHANG TRÍ:
Với đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý tận tâm, chuyên nghiệp, hệ thống tổng đài của chúng tôi luôn phục vụ 24/24h nhằm mang đến cho khách hàng sự hỗ trợ nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Hotline: 0983 198 382
Email: luatkhangtri@gmail.com
Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và thực hiện các dịch vụ pháp lý nhanh chóng, uy tín và hiệu quả.

